PDA

View Full Version : 1 số vấn đề về giải quyết mâu thuẫn có trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự


Thanh Sang
06-01-2020, 03:29 PM
cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí não, các mâu thuẫn về quyền với trí tuệ cũng xảy ra ngày một phổ biến hơn. mâu thuẫn có trí óc là 1 cái tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp thương nghiệp cụ thể, do đó việc giải quyết mẫu mâu thuẫn này dựa trên cơ sở nguyên tắc, trình tự, giấy tờ được quy định chung trong Bộ luật tố tụng dân sự. bên cạnh đó, đây là chiếc tranh chấp đặc biệt phát xuất trong khoảng tính chất vô hình của những đối tượng có trí tuệ; hơn nữa đây lại là dòng mâu thuẫn còn khá mới mẻ. thực tại cũng chỉ ra rằng, việc khắc phục các tranh chấp về quyền với trí não gặp phần nhiều khó khăn. Trong đa dạng xuất xứ dẫn đến cạnh tranh, gặp trắc trở trong công đoạn khắc phục chiếc tranh chấp này, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện cũng là căn nguyên cơ bản.

Bài viết này nói tới những trắc trở pháp lý cơ bản, quan trọng trong qúa trình khắc phục mâu thuẫn về quyền có trí tụê theo thủ tục tố tụng dân sự, ngoài ra lại chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa gần như trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật can hệ.

1. Thẩm quyền giải quyết mâu thuẫn sở hữu trí tuệ (https://medium.com/@congtyluathado/gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-tranh-ch%E1%BA%A5p-s%E1%BB%9F-h%E1%BB%AFu-tr%C3%AD-tu%E1%BB%87-ac437cdfe822?sk=27afd432d3d0e6f17cc7acf7af6a013d)

Trong ba chiếc biện pháp được áp dụng để giải quyết những mâu thuẫn về quyền có trí não, oắt giới giữa biện pháp hình sự và hai biện pháp còn lại là biện pháp dân sự và biện pháp hành chính hơi rõ ràng.[1] thường nhật, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền với công nghiệp bị xử lý hình sự nếu như trước đấy đã bị xử lý hành chính. khi mà ấy, ranh giới giữa biện pháp dân sự và giải pháp hành chính lại chưa thật sự rõ ràng, đặc thù vấn đề những tranh chấp nào được khắc phục theo hồ sơ tố tụng dân sự và những tranh chấp nào được khắc phục bằng “con đường” hành chính. Hệ quả là, phổ quát mâu thuẫn về quyền mang trí não lẽ ra phải được khắc phục theo thủ tụng tố tụng dân sự nhưng lại khắc phục theo hồ sơ hành chính. Theo Báo cáo, trong những năm qua, hầu hết những tranh chấp về quyền với trí óc được giải quyết bằng biện pháp hành chính. không ít người lo ngại rằng, việc khắc phục những mâu thuẫn về quyền có trí tuệ đang bị hành chính hoá. Quy định mập mờ về thẩm quyền dẫn tới sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan, các cơ quan đôi khi thực hiện công tác ko thuộc thẩm quyền của mình, ảnh hưởng đến hiệu quả tình thi quyền sở hữu trí não.

Pháp lệnh bảo hộ quyền với công nghiệp năm 1989 lần trước nhất quy định cho Toà án thẩm quyền xét xử những tranh chấp về quyền trí não mà cụ thể là quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 29. Theo quy định của Pháp lệnh, thẩm quyền xét xử các tranh chấp có công nghiệp của Toà án rất hẹp. Cụ thể, Toà án chỉ với thẩm quyền xét xử bốn mẫu mâu thuẫn và vi phạm sau: hành vi xâm phạm quyền mang công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ; mâu thuẫn can hệ tới việc tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng mang công nghiệp phải trả khoản tiền cho chủ văn bằng bảo hộ trong trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hưũ công nghiệp; tranh chấp can hệ tới việc cấp văn bằng bảo hộ cho doanh nghiệp, tư nhân ko sở hữu quyền nộp đơn; tranh chấp can hệ đến việc báo thù lao cho tác giả và người thừa kế của tác kém chất lượng sáng chế, giải pháp có ích, thiết kế công nghiệp[2].

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định tranh chấp về quyền mang trí tụê, chuyển giao công nghệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án (khoản 40-Điều 25, khoản 2-Điều 29). Bộ luật dân sự năm 1995 và những văn bản hướng dẫn thi hành về quyền tác kém chất lượng và quyền với công nghiệp trong Bộ luật[3] cũng chỉ quy định: tác nhái, chủ sở hữu tác phẩm, tác nhái, chủ nhân đối tượng sở hữu công nghiệp với quyền khởi kiện bắt buộc cơ quan nhà nước thẩm quyền bảo kê quyền của mình khi bị xâm hại; mâu thuẫn về quyền tác fake, quyền có công nghiệp được giải quyết theo hồ sơ tố tụng dân sự[4]. Ngày 21/8/1997, Toà án quần chúng. # tối cao đã ban hành Công văn số 97/KHXX xác định thẩm quyền khắc phục mâu thuẫn về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp. Tiếp ấy, ngày 5/12/2001, Toà án dân chúng tối cao, Viện kiểm sát quần chúng. # tối cao và Bộ văn hoá-thông tin đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT về khắc phục những mâu thuẫn can dự tới quyền tác nhái tại Toà án quần chúng. #. ngoài ra, tất cả các văn bản luật pháp này cũng chưa quy định rõ, rất nhiều các mâu thuẫn về quyền sở hữu trí não cụ thể nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo giấy má tố tụng dân sự.

Trên cơ sở vật chất những quy định rải rác trong những văn bản pháp luật nhắc trên về thẩm quyền của Toà án trong việc khắc phục mâu thuẫn quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và thực tại phát sinh, khắc phục các mâu thuẫn này, thẩm quyền theo vụ việc mang thể được xác định như sau:

những mâu thuẫn về quyền tác nhái thuộc thẩm quyền khắc phục của Toà án

- mâu thuẫn giữa những cá nhân, đơn vị nhằm xác định tác giả, đồng tác fake, chủ nhân tác phẩm;

- tranh chấp giữa tác kém chất lượng, đồng tác nhái không hề là chủ nhân tác phẩm và chủ nhân tác phẩm về những quyền nhân thân, quyền tài sản của những chủ thể này;

- mâu thuẫn về thừa kế quyền tác giả;

- tranh chấp nảy sinh từ hiệp đồng sử dụng tác phẩm;

- mâu thuẫn nảy sinh trong khoảng hiệp đồng dịch vụ bản quyền tác giả;

- tranh chấp giữa tác fake, chủ sở hữu tác phẩm gốc có tác giả, chủ nhân tác phẩm phái sinh (tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn);

- tranh chấp giữa tác nhái, chủ nhân tác phẩm sở hữu các người với quyền cận kề (quyền can dự tới quyền tác giả) là người biểu diễn, công ty phân phối băng thu thanh, ghi hình, công ty phát sóng;

- mâu thuẫn giữa những doanh nghiệp, tư nhân sở hữu quyền can hệ đến quyền tác nhái, bao gồm: người biểu diễn, công ty sản xuất băng ghi âm, ghi hình, đơn vị phát sóng và các người khác có hành vi vi phạm quyền của họ;

- mâu thuẫn giữa tác kém chất lượng, đồng tác fake mang những người với can dự nhưng ko phải là tác fake, bao gồm: người sưu tầm tài liệu cho tác nhái, người sản xuất tài chính và dụng cụ vật chất khác.

tranh chấp về quyền với công nghiệp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

- tranh chấp nhằm xác định người nào là tác kém chất lượng, chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp đối tượng sở hữu công nghiệp;

- Tác nhái sáng chế, giải pháp hữu ích, ngoài mặt công nghiệp, bề ngoài sắp xếp mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng khởi kiện cá nhân, đơn vị (trong ấy bao gồm cả chủ nhân những đối tượng này) xâm phạm quyền tác nhái của mình;

- chủ sở hữu những đối tượng có công nghiệp: sáng chế, biện pháp hữu dụng, bề ngoài công nghiệp, nhãn hàng hàng hoá, bề ngoài sắp đặt mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, tên thương nghiệp, bí mật kinh doanh; người với quyền tiêu dùng hợp pháp tên gọi cỗi nguồn hàng hoá, chỉ dẫn địa lý có khởi kiện cá nhân, doanh nghiệp xâm phạm quyền với, quyền sử dụng của mình;

- chủ sở hữu những đối tượng sở hữu công nghiệp khởi kiện người dùng trước những đối tượng có công nghiệp này trong trường hợp người tiêu dùng trước chuyển giao quyền sử dụng cho người khác hoặc mở rộng khối lượng, khuôn khổ so với ngày ban bố trong đơn;

- tư nhân, đơn vị khởi kiện cá nhân, tổ chức khác cản trở, tránh quyền tự do thông minh, quyền có những sản phẩm trí óc của mình;

- tranh chấp về thừa kế quyền mang công nghiệp;

- mâu thuẫn phát sinh từ hợp đồng chuyển giao quyền với, quyền dùng đối tượng sở hưũ công nghiệp (còn gọi là hợp đồng li-xăng);

- tranh chấp về hiệp đồng nhà cung cấp đại diện có công nghiệp;

- mâu thuẫn về quyền nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ quyền với công nghiệp (Bằng độc quyền hoặc Giấy chứng nhận);

- mâu thuẫn về việc trả thù lao và những khoản phí khác giữa Cục mang trí óc và những chủ thể khác.

Rõ ràng, giả dụ so sánh với quy định của Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989, luật pháp hiện hành đã giành cho Toà án thẩm quyền rộng hơn gần như trong việc xét xử các mâu thuẫn về quyền tác giả và quyền có công nghiệp.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 25, Điều 27, Điều 33, Điều 34), thẩm quyền khắc phục các mâu thuẫn có trí não của Toà án được xác định như sau: 1.Nếu mâu thuẫn có trí óc đơn giản là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện; 2.Nếu tranh chấp với trí não thuần tuý là mâu thuẫn dân sự nhưng mang đương sự hoặc đối tượng có trí tuệ ở nước ngoài, thuộc quyền của Toà án cấp tỉnh; 3.Nếu mâu thuẫn sở hữu trí óc giữa cá nhân, tổ chức mang nhau và đều sở hữu mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh giấc.

hai. Người với quyền khởi kiện tranh chấp quyền với trí não

bên cạnh vấn đề thẩm quyền, cần phải quy định rõ ai có quyền khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu trí óc trước Toà án theo thủ tụng tố tụng dân sự. Vấn đề bên nguyên trong vụ kiện về quyền mang trí óc cũng chưa được quy định trong bất kỳ văn bản luật pháp nào. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để đề nghị Toà án khắc phục vụ án dân sự lúc cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, đơn vị do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để bắt buộc Toà án kiểm soát an ninh lợi ích công cộng, ích lợi của Nhà nước thuộc ngành nghề mình đảm nhận cũng là nguyên đơn”. nguyên đơn sở hữu các quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 1, Điều 59-Bộ luật tố tụng dân sự.

Do luật pháp không quy định người nào với quyền khởi kiện tranh chấp về quyền có trí não, dẫn đến trong thực tại người mang quyền khởi kiện đôi khi bỏ mất quyền khởi kiện hoặc người không sở hữu quyền khởi kiện lại khởi kiện nên không được Toà án khắc phục.

nguyên đơn trong vụ án về quyền có trí tuệ sở hữu thể là tác fake, chủ sở hữu đối tượng mang trí tuệ hoặc một số người sở hữu quyền liên quan khác. Cụ thể như sau:

Đối với các mâu thuẫn về quyền tác nhái, những người sau đây có quyền khởi kiện:

- Tác nhái đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;

- Tác giả ko đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;

- chủ sở hữu tác phẩm ko song song là tác giả;

- Người được thừa kế của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm;

- Người mang quyền can hệ tới quyền tác nhái, bao gồm: người biểu diễn; đơn vị phân phối băng âm thanh, băng hình; tổ chức phát sóng;

- Người mang quyền dùng hợp pháp tác phẩm duyệt y giao kèo dùng tác phẩm;

- công ty, cá nhân được những chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của luật pháp.

Đối với tranh chấp về quyền có công nghiệp, những người sau đây có quyền khởi kiện:

- Tác giả sáng chế, biện pháp hữu dụng, ngoại hình công nghiệp, thiết kế sắp xếp mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng.

- chủ nhân sáng chế, giải pháp hữu dụng, bề ngoài công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí ẩn buôn bán.

- Người sử dụng hợp pháp tên gọi nguyên do hàng hoá, chỉ dẫn địa lý.

- Người được thừa kế quyền có công nghiệp.

- Người với quyền tiêu dùng hợp pháp các đối tượng với công nghiệp chuẩn y hợp đồng li-xăng.

- Người biểu diễn; công ty, tư nhân cung ứng băng thu thanh, ghi hình; tổ chức phát thanh, truyền hình.

- doanh nghiệp, cá nhân được các chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật.

khi xác định bên nguyên trong trong chấp về quyền có trí tuệ, cần lưu ý: Đối với quyền tác giả, quyền khởi kiện buộc phải bảo hộ quyền tác kém chất lượng nảy sinh trong khoảng thời điểm tư nhân sáng tạo ra tác phẩm và diễn tả sự thông minh ấy dưới 1 hình thức vật chất nhất thiết. tức là, nếu một người có ý tưởng thông minh tác phẩm văn học, nghệ thuật, công nghệ, nhưng chưa diễn đạt ý tưởng này dưới bất kỳ hình thức nào như: giấy, gỗ, vải… thì không thể khởi kiện đề nghị Nhà nước kiểm soát an ninh quyền của mình đối mang ý tưởng. Hơn nữa, trong trường hiệp tác fake, chủ sở hữu tác phẩm khởi kiện cá nhân, tổ chức xâm phạm quyền của họ (trừ các quyền nhân thân quy định tại điểm a, b, đ-khoản 1-Điều 751-Bộ luật dân sự), việc khởi kiện chỉ được chấp thuận trong thời hạn tác phẩm được bảo hộ. Thời hạn ấy là suốt cuộc thế tác kém chất lượng và 50 năm sau lúc tác fake chết. Đối với quyền sở hữu công nghiệp, giả dụ tác fake, chủ sở hữu, người dùng hợp pháp đối tượng mang công nghiệp khởi kiện doanh nghiệp, tư nhân khác xâm phạm quyền của mình phải là người đã được cấp Văn bằng bảo hộ cho đối tượng mang công nghiệp đó; và hành vi vi phạm xảy ra trong thời hạn bảo hộ.

3. chứng cớ

khi giải quyết mâu thuẫn về quyền mang trí óc, cũng như đối sở hữu các vụ án dân sự khác, “đương sự với đề xuất Toà án kiểm soát an ninh quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cớ để chứng minh cho yêu cầu đấy là với căn cứ và hợp pháp. Đương sự phản đối đề xuất của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cớ để chứng minh” (Điều 79-Bộ luật tố tụng dân sự). ngoài ra, việc chứng minh trong vụ án về quyền sở hữu trí óc thường cạnh tranh hơn đầy đủ so mang những vụ án dân sự khác.

Theo quy định tại Điều 82-Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, pháp luật thừa nhận chín nguồn chứng cớ mà đương sự được dùng để đảm bảo nghĩa vụ chứng minh của mình. Ngoài quy định chung này trong Bộ luật tố tụng dân sự, ko có bất kỳ 1 văn bản pháp luật nào quy định về chứng cứ trong quá trình khắc phục tranh chấp về quyền mang trí tuệ[5].

Trong những mẫu chứng cứ được quy định tại Điều 82-Bộ luật tố tụng dân sự, các nguồn sau đây với thể được tiêu dùng khi khắc phục mâu thuẫn về quyền mang trí tuệ: những tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; những vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của ngừoi làm chứng; kết luận giám định; kết quả định giá tài sản. Tuỳ từng mẫu mâu thuẫn cụ thể mà bằng cớ được tiêu dùng khác nhau, đương sự với thể đưa ra 1 hoặc 1 số loại chứng cứ.

Đối mang tranh chấp về quyền tác giả, các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được mang trị giá là chứng cứ bao gồm:

- Giấy chứng thực bản quyền tác nhái do Cục bản quyền thuộc Bộ Văn hoá-thông tin cấp. Giấy chứng nhận bản quyền tác nhái là chứng cớ để chứng minh người với tên trong Giấy này là tác nhái của tác phẩm. Trong trường hợp đương sự ko khiến hồ sơ đăng ký tại Cục bản quyền tác fake, nếu muốn chứng minh là tác giả, đương sự phải chứng minh mình đã sáng tạo ra tác phẩm và sự sáng tạo đấy đã được định hình dưới một hình thức vật chất;

- các tác phẩm văn chương, nghệ thuật, công nghệ bộc lộ dưới hình thức: bài báo, sách, báo chí, băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa hình… với nội dung vi phạm tác phẩm đã được bảo hộ;

- hiệp đồng thuê sáng tạo; hiệp đồng lao đồng và văn bản giao việc trong trường hợp chứng minh tư nhân, tổ chức là chủ sở hữu tác phẩm;

- chúc thư hợp pháp, bản án, quyết định của Toà án về việc chia di sản thừa kế trong trường hợp giải quyết mâu thuẫn nảy sinh từ thừa kế quyền tác giả;

- hợp đồng dùng tác phẩm trong trường hợp giải quyết mâu thuẫn về hợp đồng dùng tác phẩm;

- giao kèo dịch vụ bản quyền tác kém chất lượng trong trường hợp khắc phục mâu thuẫn về giao kèo nhà sản xuất bản quyền tác giả;

- hiệp đồng thuê biểu diễn nghệ thuật, giao kèo công ty phân phối chương trình văn hoá, nghệ thuật; giao kèo cung cấp, phát hành băng ghi âm, ghi hình; hiệp đồng trong ngành nghề phát thanh, truyền hình trong trường hợp giải quyết tranh chấp nảy sinh từ những quan hệ này;

- Hoá đơn thanh toán thù lao, nhuận bút trong trường hợp khắc phục mâu thuẫn can dự tới quyền hưởng những khoản này của tác kém chất lượng.

Đối mang tranh chấp về quyền có công nghiệp, các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được có giá trị là chứng cứ bao gồm:

- Văn bằng bảo hộ đối tượng với công nghiệp được sử dụng để chứng minh người sở hữu tên trong văn bằng là tác fake, chủ sở hữu đối tượng có công nghiệp. Cụ thể là Bằng độc quyền sáng chế, biện pháp có ích, thiết kế công nghiệp. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hàng hàng hoá, Giấy chứng nhận quyền dùng tên gọi duyên cớ hàng hoá, Giấy chứng nhận đăng ký mẫu mã sắp xếp mạch tích hợp bán dẫn, Bằng bảo hộ giống cây trồng mới;

- hiệp đồng thuê sáng tạo; giao kèo lao đồng và văn bản giao việc trong trường hợp chứng minh là chủ nhân đối tượng với công nghiệp trong trường hợp chứng minh người nào là tác giả, chủ nhân đối tượng sở hữu công nghiệp;

- chúc thư hợp pháp, bản án, quyết định của Toà án về việc chia di sản thừa kế trong trường hợp khắc phục mâu thuẫn về thừa kế quyền sở hữu công nghiệp;

- giao kèo chuyển giao quyền sở hữu đối tượng có công nghiệp, hợp đồng li-xăng trong trường hợp giải quyết tranh chấp nảy sinh trong khoảng những hiệp đồng này;

- hiệp đồng nhà cung cấp đại diện với công nghiệp trong trường hợp khắc phục tranh chấp phát sinh trong khoảng hiệp đồng này;

- Đơn và các giấy má khác chứng minh đã nộp đơn;

- các hiệp đồng, hồ sơ khác về việc tìm bán, gửi giữ, lăng xê, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá/dịch vụ có gắn đối tượng có công nghiệp đã được bảo hộ trong trường hợp chứng minh hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp;

- những hoá đơn, chứng từ hợp lệ;

- Danh mục nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng trong trường hợp chứng minh thương hiệu hàng hoá, tên thương nghiệp giống hoặc tương tự có nhãn hiệu hàng hoá nức tiếng.

tuy nhiên, 1 số tang chứng cũng có thể được tiêu dùng. Ví dụ: Hàng hoá gắn đối tượng mang công nghiệp đã được bảo hộ; hàng hoá gắn đối tượng với công nghiệp bị coi là vi phạm; những khoản thu lợi bất chính…

4. thẩm định

Vấn đề giám định thường được đặt ra trong trường hợp đối tượng mang trí não đang tranh chấp là đối tượng phức tạp. Theo Điều 90 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, thẩm phán ra quyết định trưng cầu thẩm định theo sự thoả thuận chọn lọc của các đối tác đương sự hoặc theo bắt buộc của 1 hoặc các đối tác đương sự. Kết luận giám định là 1 nguồn chứng cứ quan yếu. tuy nhiên, Điều 67 – Bộ luật tố tụng dân sự về người đánh giá chỉ quy định chung chung “Người đánh giá là người với kiến thức, kinh nghiệm thiết yếu theo quy định của lĩnh vực với đối tượng cần giám định”. cho đến nay, trong ngành sở hưũ trí óc, chưa với quy định cụ thể cơ quan nào mang thẩm quyền giám định, trình tự, giấy tờ đánh giá ra sao. Trong thực tiễn, thẩm quyền đánh giá đối tượng sở hữu trí óc thuộc về Cục sở hữu trí tuệ, trong khi đấy đây lại là một cơ quan điều hành nhà nước về sở hữu công nghiệp.

Nên quy định một cơ quan độc lập mang thẩm quyền giám định đối tượng mang trí não, hành vi xâm phạm quyền có trí não. Đối với quyền tác fake, đó là cơ quan độc lập thuộc Bộ văn hoá-thông tin, còn đối sở hữu quyền với công nghiệp, đấy là cơ quan thuộc Bộ khoa học-công nghệ.

5. Xác định mức bồi thường

giấy má tố tụng dân sự cho phép tác fake, chủ nhân của tác phẩm văn học, nghệ thuật, kỹ thuật và tác fake, chủ nhân những đối tượng sở hữu công nghiệp cũng như các chủ thể mang quyền can hệ khác được quyền khởi kiện đề nghị Toà án công nhận quyền của mình; buộc người có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền mang công nghiệp kết thúc hành vi xâm phạm; đề xuất người mang hành vi xâm phạm; và buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại. bên cạnh đó, luật pháp Việt Nam chưa quy định cụ thể về phương pháp xác định thiệt hại, mức bồi hoàn thiệt hại trong trường hợp quyền có trí não bị xâm hại. giả dụ chỉ căn cứ vào những quy định về “Trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại ngoài hợp đồng” tại chương 5, phần thứ ba của Bộ luật dân sự sẽ không thoả đáng khi khắc phục vấn đề bồi thường thiệt hại do đối tượng với trí tuệ bị xâm phạm. Hơn nữa, theo nguyên tắc, nguyên đơn sở hữu bổn phận chứng minh chừng độ thiệt hại thực tiễn và thiệt hại tiềm tàng của mình do hành vi xâm phạm quyền có công nghiệp gây ra. tuy nhiên, để chứng minh được điều này là điều ko thuần tuý có nguyên đơn.

hiện tại, các Toà án rất lúng túng trong việc giải quyết vấn đề bồi hoàn thiệt hại cho nguyên đơn. Trong đông đảo những vụ việc, việc xác định mức đền bù cho nguyên đơn là không thoả đáng, vì thế ko bảo kê thừa hưởng ích chính đáng của họ. Về vấn đề này cần được xác định rõ trong Luật có trí não đang được vun đắp, hoặc chỉ dẫn xét xử của Toà án nhân dân vô thượng.

Theo chúng tôi, nên quy định: Thứ nhất, mức bồi hoàn được xác định trên cơ sở vật chất tổn thất thực tiễn mà tác fake, chủ nhân, người có quyền sử dụng hợp pháp đối tượng sở hữu trí não phải gánh chịu do hành vi xâm phạm quyền mang trí tuệ. Thứ 2, thiệt hại bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất bao gồm: tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, giá thành hợp lý để ngăn chặn, giải quyết thiệt hại, giá bán hợp lý để thuê trạng sư, tổn thất về cơ hội kinh doanh. Thiệt hại về ý thức bao gồm: tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về ý thức.

6. Kết luận

Rõ ràng, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp về quyền với trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự chưa cụ thể, chưa phần nhiều. Điều này gây cạnh tranh cho các cơ quan giải quyết mâu thuẫn và cho cả đương sự, khiến cho hiệu quả tình thi quyền với trí tuệ ở nước ta ko cao. vì vậy, việc hoàn thiện hạ tầng pháp lý cho việc thực thi quyền mang trí não nói chung và khắc phục tranh chấp về quyền mang trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự đề cập riêng cực kỳ nhu yếu.

Để bảo đảm giải quyết phải chăng hơn tranh chấp về quyền mang trí não theo thủ tụng tố tụng dân sự, cần phải quy định cụ thể hơn về các vấn đề: một. những tranh chấp về quyền có trí óc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; hai. những tổ chức, cá nhân sở hữu quyền khởi kiện mâu thuẫn về quyền với trí não trước Toà án; 3. các chứng cứ đương sự được dùng trong quá trình chứng minh; 4. Cơ quan mang thẩm quyền đánh giá và lớp lang, giấy tờ giám định; 5. Nguyên tắc bồi thường và xác định mức định đền bù khi quyền với trí óc bị xâm phạm.

Nhằm hoàn thiện những quy định luật pháp tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp quyền tác fake và quyền sở hữu công nghiệp, theo chúng tôi: ko nên bổ sung các quy định về những khó khăn được phân tách trên đây vào Bộ luật tố tụng dân sự mà nên theo hướng quy định trong những văn bản chỉ dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và đặc trưng là văn bản hướng dẫn xét xử của Toà án quần chúng. # tối cao (bên cạnh ấy, cũng nên quy định trong văn bản luật pháp nội dung là Luật sở hữu trí tuệ). Bởi vì, Bộ luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý quan yếu nhất trong việc khắc phục các vụ việc dân sự. Bộ luật chỉ quy định chung về nguyên tắc, trình tự, giấy má, quyền, trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình khắc phục vụ việc dân sự mà không quy định cụ thể cho từng vụ án, việc dân sự.

song song có việc hoàn thiện những quy định pháp luật, cần thiết phải tăng trình độ của những thẩm phán chuyên trách về ngành sở hữu trí não. Điều này góp phần nâng cao quả khắc phục tranh chấp và làm nâng cao độ tin cậy của những đương sự trong mâu thuẫn về quyền sở hữu trí não./.

[1] Để bảo kê quyền tác nhái, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 2 tội: tội xâm phạm quyền tác kém chất lượng (Điều 131) và tội vi phạm những quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc những ấn phẩm khác (Điều 271). Để kiểm soát an ninh quyền mang trí óc, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội: một. Tội cung cấp, buôn bán hàng nhái (Điều 156); Tội cung cấp, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); Tội cung cấp, buôn bán hàng nhái là thức ăn sử dụng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158); Tội lừa dối người mua (Điều 162); Tội xâm phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền có công nghiệp (Điều 170); Tội xâm phạm quyền có công nghiệp (Điều 171).

[2] Xem khoản 3-Điều 9; khoản 2-Điều 14; khoản hai và khoản 3-Điều 28 của Pháp lệnh bảo hộ quyền với công nghiệp năm 1989.

[3] Nghị định 76-CP ngày 29/11/1996 của Chính Phủ chỉ dẫn thi hành 1 số quy định về quyền tác kém chất lượng trong Bộ luật dân sự, Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính Phủ quy định chi tiết về mang công nghiệp chỉ quy định

4. Xem Điều 759– Bộ luật dân sự; điểm c-khoản một, Điều 796– Bộ luật dân sự; điểm c-khoản 1-Điều 800–Bộ luật dân sự; Điều 7- Nghị định 76/CP; Điều 54-Nghị định 63/CP.

5. Dự thảo Luật có trí óc cũng quy định về bằng chứng mà đương sự có quyền tiêu dùng trong công đoạn khắc phục mâu thuẫn về quyền có trí não. bên cạnh đó, đây vẫn là quy định qua quýt.